Bài 4: Trọn tình, đầy nghĩa

Mẹ và bé
Rate this post

Mẹ Lào, anh trai, em gái

Đã có rất nhiều câu chuyện về những người dân Lào đã hết lòng chăm sóc, cứu chữa cho các chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam tại Lào khi họ bị thương, bị những cơn sốt rét rừng hành hạ, sẵn sàng mang theo hạt gạo. giã gạo nấu cháo sẵn sàng truyền hơi ấm cho các chiến sĩ tình nguyện như cho người thân của họ.

Riêng đối với anh Nguyễn Văn Nghiệp, Phó trưởng Ban liên lạc quốc gia Quân tình nguyện Việt Nam và chuyên gia tại Lào, “máu mủ”, “con nhà nòi” là điều anh không ngừng nhắc đến khi nói về những người cơ nhỡ. Nhân dân Lào trung thành, thủy chung, là người mà ông có dịp tiếp xúc trong suốt thời kỳ chiến đấu ác liệt, gian khổ và tràn đầy niềm tin rằng cả hai dân tộc sẽ chiến thắng.

“Cùng với nhận thức đúng đắn về nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào, sự tin tưởng, yêu thương, đùm bọc của nhân dân các bộ tộc Lào đã giúp chúng tôi vượt qua mọi khó khăn, gian khổ”, ông Nghiệp nói. xác nhận.

Ông Nghiệp còn nhớ, năm 1950, trong một lần đi thăm gia đình trưởng họ bị ốm đang an dưỡng tại một ngôi nhà ở tỉnh Attapeu, ông đã gặp và trò chuyện với người mẹ của gia đình đó. Thấy anh bộ đội tình nguyện Việt Nam tuổi còn trẻ, hiền lành, biết anh ở quê với mẹ già và con nhỏ, chị thương anh lắm và muốn giới thiệu cô con gái xinh xắn tên là Simon. .

Tuy nhiên, điều kiện lúc đó không cho phép anh nghĩ đến chuyện tình cảm riêng tư. Dù đôi trẻ không nên duyên với nhau nhưng người mẹ Lào vẫn yêu thương và nhận anh làm con nuôi. Cô đặt cho anh một cái tên tiếng Lào là Khamsy. “Từ“ Kham ”trong tiếng Lào có nghĩa là“ vàng ”, từ“ sy ”dùng để chỉ tên của con gái Simon.

Cái tên Khamsy mang ý nghĩa sâu sắc, thể hiện sự kính trọng, thể hiện mẹ coi tôi như con đẻ của mình. Trong suốt thời gian làm việc tại Attapeu, tôi luôn được gia đình mẹ bao bọc và che chở ”, anh nói.

Giai đoạn 1954-1955, khi hoạt động tại tỉnh Champasak, ông Nghiệp được một đảng viên bố trí giúp việc. Một đảng viên tên Ki và vợ tên Chom đã kết hôn nhiều năm nhưng không có con. Biết hoàn cảnh gia đình anh, vợ chồng đảng viên càng thương anh, coi anh như em ruột. Bất kể mưa nắng, ngày đêm, người chồng liên lạc, dẫn đường đưa xuống cơ sở, còn người vợ lo cơm nước.

“Anh ấy luôn đi trước để thăm dò tình hình để đảm bảo an toàn. Khi tôi ở nhà, các anh chị thay nhau canh gác để tôi được nghỉ ngơi. Vì nhiệm vụ nên mãi sau này khi hòa bình lập lại, tôi mới có dịp về thăm nhưng rất tiếc cả hai anh chị đều đã qua đời ”, anh bùi ngùi nhớ lại.

Nhắc đến sự chăm sóc, đùm bọc của hai vợ chồng người Lào, ông Nghiệp cho biết, câu chuyện khiến ông nhớ đến một nữ đảng viên kiên trung, bất khuất của cách mạng Lào tên Bua mà ông quen ở Champasak. Năm 1955, khi đang trên đường đưa lương thực tiếp tế cho các chuyên gia Việt Nam, bà bị địch bắt giam.

Sử dụng nhiều cách tra tấn không thành công, họ đưa cô và một tù nhân khác đến trước hai ngôi mộ đã được đào sẵn. Chúng bịt mắt, nổ súng, dọa giết nhưng không khuất phục được, cuối cùng địch phải đưa về nơi giam giữ.

“Bị giam một thời gian, dùng nhiều thủ đoạn nhưng không khiến bà Bứa nói một lời và cũng vì không tìm được chứng cứ nên chúng buộc phải thả bà ra. Sau khi nghỉ ngơi, lấy lại sức và nghe ngóng tình hình, bà Bua đã kết nối lại với tổ chức và tích cực lao động, đóng góp cho cách mạng ”, ông Bùa kể.

Quy luật tồn tại và phát triển

Với tinh thần quốc tế vô sản và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Giúp bạn là tự giúp mình”, quân tình nguyện Việt Nam đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, kề vai sát cánh. đã sát cánh cùng quân và dân các bộ tộc Lào anh em chiến đấu và chiến thắng vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân, đế quốc như Chủ tịch Kaysone Phomvihane đã từng khẳng định: “Máu xương của dân tộc Việt Nam đã nhuộm đỏ. cả nước Lào vì nền độc lập của Lào ”,“ Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng mối quan hệ đặc biệt ”.

Những chiến công hiển hách và tấm lòng quả cảm của quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam không thể diễn tả hết bằng lời và không bao giờ phai nhạt trong lòng nhân dân Lào. “Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào sẽ luôn ghi nhớ sự hy sinh cao cả, mồ hôi, xương máu của quân tình nguyện Việt Nam và các chuyên gia đã giúp đỡ cách mạng Lào trước đây. Sự giúp đỡ này chẳng khác nào giúp anh em trong một gia đình, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giúp bạn là tự giúp mình”, Đại sứ Lào tại Việt Nam Sengphet Houngboungnuang nói.

Nếu nhân dân Việt Nam hy sinh xương máu cho cách mạng Lào thì ở chiều ngược lại, nhân dân Lào cũng hy sinh tính mạng, tài sản để giúp đỡ cách mạng Việt Nam. Như Tổng Bí thư Lê Duẩn đã từng khẳng định: “Hai Đảng, hai dân tộc ta cùng giúp đỡ nhau, thấy chỉ giúp một phía là không đúng”. Với tình cảm đặc biệt, Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào đã ủng hộ hết mình, tạo mọi điều kiện thuận lợi để Việt Nam mở “Đường Hồ Chí Minh” qua Lào để “xẻ dọc dãy Trường Sơn cứu nước”, hoàn thành giải phóng miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước ”, Đại sứ Sengphet Houngboungnuang nhấn mạnh.

Sự hy sinh cao cả và vô cùng to lớn ấy đã trở thành sức mạnh có một không hai, là động lực to lớn, góp phần đưa các cuộc cách mạng Việt Nam và Lào đến thắng lợi vĩ đại năm 1975, kết thúc hàng chục năm. kháng chiến, lập chiến công đánh thắng thực dân, đế quốc.

Kể từ khi hai nước thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã phối hợp chặt chẽ, đưa cách mạng hai nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và tiến lên. định hướng xã hội chủ nghĩa, tô thắm thêm một kỳ tích mới của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào.

Thực tế lịch sử đó, theo Đại sứ Việt Nam tại Lào Nguyễn Bá Hùng và Đại sứ Sengphet Houngboungnuang đã khẳng định mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào là tài sản chung vô giá của nhân dân hai nước, là quy luật tồn tại. và phát triển, là nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạng mỗi nước.

(còn nữa)

Hoàng Vương

Leave a Reply

Your email address will not be published.