Chủ tịch Hiệp hội Dệt may chỉ ra 3 nguyên nhân khiến doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải sản xuất trên thương hiệu của người khác

Mẹ và bé
Rate this post

Là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn, có lợi thế về nguyên liệu và lao động, ngành dệt may Việt Nam sau hơn 20 năm không ngừng phát triển với tốc độ tăng trưởng bình quân 15% / năm. Kim ngạch xuất khẩu của ngành hiện đóng góp từ 10 – 15% GDP hàng năm, Việt Nam cũng là một trong 5 nước xuất khẩu hàng dệt may hàng đầu thế giới với thị phần từ 4 – 5%.

Tự động hóa đóng gói đang mong đợi tuyệt vời doanh nghiệp đối mặt với thách thức phân bổ lao động sau Hiệp định 19

Riêng 6 tháng đầu năm 2022, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đạt 18,65 tỷ USD, tăng 21,6% so với cùng kỳ. Đây là một con số tương đối ấn tượng trong bối cảnh toàn ngành đang phục hồi từ Covid-19, chưa kể thị trường đang có khá nhiều biến động do các sự kiện tăng giá hàng hóa, xung đột Nga – Ukraine …

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức đối với toàn ngành nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, khi trong sân chơi đó, Việt Nam vẫn là quốc gia chen chân vào các thương hiệu nước ngoài và chưa phát hiện được tiềm năng vốn có. Chia sẻ tại Sự kiện Quốc tế SaigonTex & SaigonF Fabric 2022, ông Vũ Đức Giang – Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) – nhấn mạnh: “Tỷ trọng của ngành dệt may Việt Nam trên thế giới còn nhỏ và manh mún so với thế mạnh và tiềm năng của chúng ta”.

Được biết, SaigonTex & SaigonFainst là triển lãm về dệt / may, vải và phụ liệu của Việt Nam trong những năm gần đây. Quy mô của năm nay lên đến diện tích gian hàng gần 10.000 m2, với hơn 278 đơn vị triển lãm đến từ 16 quốc gia như Trung Quốc, Đức, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Anh, Mỹ….

“Sự phát triển của năm nay triển lãm diễn ra và thảo luận thẳng thắn những vấn đề lớnlà cần phải tạo ra sự khác biệt trong tầm nhìn giải pháp của ngành. Khi nào, Sau 2 năm bị ảnh hưởng bởi dịch, không chỉ ngành dệt may mà còn ngành công nghiệp máy móc và thiết bị cho ngành dệt may đang trở thành một vấn đề cấp bách. Trong đó, tự động hóa đóng góisản xuất tinh gọn là một kỳ vọng lớn doanh nghiệp đối mặt với thách thức phân bổ lao động sau Hiệp định 19Ông Giang nhấn mạnh.

Áp lực lên sản phẩm tái chế khẩn cấp, nhiều khách hàng hàng hóa yêu cầu chúng tôi làm nhận được rằng

Bên lề triển lãm, ông Giang cũng có những trao đổi và khuyến nghị về quản trị số thông qua các nền tảng công nghệ. Bởi vì, trong bối cảnh chiến dịch Zero Covid của Trung Quốc, việc quản lý vận hành là cần thiết khi nhiều quốc gia muốn chuyển dòng vốn và công nghệ của họ sang Việt Nam. Sự thay đổi này cũng mở ra thị trường mới trong ngành thời trang và phụ kiện toàn cầu.

Trong đó, Chủ tịch Vitas đặc biệt nhấn mạnh áp lực đơn hàng hiện nay đang thay đổi: Cụ thể là áp lực về sản phẩm tái chế, nhiều khách hàng yêu cầu chúng tôi phải làm. Do đó, các doanh nghiệp dệt may cần xác định tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất, từ đó đáp ứng yêu cầu của đối tác, đặc biệt là nhóm khách hàng lớn đến từ các nước như châu Âu.

Và để các doanh nghiệp thấy được tầm quan trọng của yêu cầu này và đầu tư phát triển, theo ông Giang, có 3 vấn đề lớn cần Chính phủ cũng như các địa phương hỗ trợ, bao gồm:

Thứ tựứ đọng nhất, cơ chế chính sách: Cần khuyến khích các doanh nghiệp phát triển các sản phẩm có tính thông minh cao, chẳng hạn như hàng FOB. Đồng thời, các chính sách liên quan đến thuế nhập khẩu cũng cần được xem xét sớm.

Bởi lẽ, dù giảm 1 đồng phí đã là rất tích cực cho doanh nghiệp, nhưng giảm 1 đồng doanh thu dịch vụ, tôi tin rằng vẫn tạo ra động lực tăng trưởng rất lớn cho các đơn vị sản xuất ”. Anh Giang cho hay.

FOB là từ viết tắt của Free On Board, nghĩa là doanh nghiệp chỉ nhận đơn đặt hàng của khách, sau đó chủ động may và hoàn thiện sản phẩm.

Thứ hai, cơ chế tài chính: Trọng tâm là đầu tư vào năng lượng tái tạo và giảm sử dụng nước. Vì sao ?, do các nhãn hàng yêu cầu chúng ta phải tuân thủ các doanh nghiệp sản xuất để đảm bảo tiêu chuẩn xanh hóa, nên Việt Nam cần có cơ chế khuyến khích các bên tham gia đầu tư vào quá trình sản xuất. Trong đó, hạn chế tối đa việc sử dụng than, dầu để đốt mà thay thế bằng lò hơi điện. Riêng đối với nồi hơi điện, sử dụng song song năng lượng mặt trời sẽ rất hiệu quả.

Thứ ba, khuyến khích phát triển các trung tâm nghiên cứu: Đặc biệt tại TP.HCM, nên khuyến khích các nhà sản xuất, thiết kế có các trung tâm phát triển người mẫu, trình diễn thời trang,… Làm sao để chúng ta làm chủ được thiết kế, thương hiệu của mình? Chúng tôi không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn phục vụ thị trường xuất khẩu.

Đáng khen là các mặt hàng thời trang của các nhà thiết kế trẻ Việt Nam được đưa lên thương mại điện tử tương đối tốt

Mặt khác, trước xu thế thương mại điện tử là tất yếu, ông Giang cũng nhấn mạnh Việt Nam không thể làm khác. Hiện tại, chúng ta đang bán hàng theo phương thức truyền thống tại các cửa hàng, trung tâm thương mại … nhưng với thương mại điện tử thì chỉ những doanh nghiệp có nền tảng bán hàng và nguồn lực tốt mới có thể cạnh tranh được. Vì vậy, các bên phải hợp tác, để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực này để nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường.

Theo anh Giang, hiện nay, các mặt hàng bày bán trên sàn chủ yếu là quần áo trẻ em, đồ mặc nhà, áo sơ mi nam nữ, áo phông, quần jean… Đáng khen hơn là các mặt hàng thời trang có sự khác biệt. Sự phát triển của các nhà thiết kế trẻ Việt Nam với tư duy sáng tạo cũng đã được đưa vào thương mại điện tử tương đối tốt trong thời gian gần đây.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất để Việt Nam có chỗ đứng trên thế giới, đó là việc đưa sản phẩm dệt may mang thương hiệu Việt Nam ra thị trường thế giới ở cả hai kênh thương mại điện tử và truyền thống vẫn bị “tắc” do 3 nguyên nhân sau:

(i) Chúng ta chưa có quy mô lớn, còn nhỏ lẻ, manh mún;

(ii) Chúng ta chưa chủ động thâm nhập vào các thị trường lớn như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc. Hiện đã có một số thương hiệu của Việt Nam như Viettien đã xuất khẩu được sang Myanmar, nhưng chưa làm được qua các nước lớn như Châu Âu, Mỹ. Nguyên nhân là do công tác quảng bá chưa được đầu tư và triển khai mạnh mẽ, chúng tôi cũng chưa hiểu hết về gu ăn mặc của người dân địa phương.

(ii) Cuối cùng là khó khăn liên quan đến nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực về quản trị số, quản trị mạng và kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử.

Với những tồn đọng này, Chủ tịch Vitas thẳng thắn đưa ra hai giải pháp cần quan tâm. Thứ nhất, xu hướng thương mại điện tử cùng với xu hướng dịch chuyển hàng dệt may từ các nước vào Việt Nam là xu hướng tất yếu, và chúng ta phải tuân thủ luật chơi toàn cầu. Không chỉ phải đáp ứng các yêu cầu, tiêu chí mà doanh nghiệp còn cần hiểu rõ văn hóa và khẩu vị của các quốc gia mà mình muốn thâm nhập.

Hơn nữa, vấn đề thứ hai cũng là vấn đề mấu chốt, doanh nghiệp chủ động xây dựng nền tảng chuỗi cung ứng nguyên liệu.

“Từ đó, chỉ có doanh nghiệp dệt may mới đáp ứng được yêu cầu và chủ động trong việc phát triển mẫu mã, có như vậy thì ngành dệt may mới thoát ra được, chúng ta đang sản xuất trên thương hiệu của người khác. Tỷ trọng ngành dệt may Việt Nam trên thế giới còn nhỏ và manh mún so với thế mạnh và tiềm năng của mình. Anh Giang chốt thương vụ.

https://cafef.vn/chu-tich-hiep-hoi-det-may-chi-ra-3-nguyen-nhan-khi-doanh-nghiep-viet-van-mai-phai-san-xuat-tren- thuong-hieu-nguoi-khac-20220716120529689.chn

Leave a Reply

Your email address will not be published.