Ngược dòng lịch sử, tìm hiểu về đại dịch cúm A

Mẹ và bé
Rate this post

Đại dịch cúm năm 1918-1919

Đại dịch cúm năm 1918-1919 đã giết chết nhiều người hơn bất kỳ đợt bùng phát nào khác trong lịch sử. Một ước tính đương thời đưa ra con số tử vong trong đại dịch cúm này là 21 triệu người, một con số áp đảo khi dân số thế giới vào năm 1918 chỉ bằng 28% dân số ngày nay.

Các triệu chứng của bệnh cúm A năm 1918 rất bất thường đến nỗi ban đầu người ta chẩn đoán nhầm là bệnh sốt xuất huyết, bệnh tả, hoặc bệnh thương hàn. Một nhà quan sát bệnh đã viết, “Một trong những biến chứng nổi bật nhất là chảy máu từ màng nhầy, đặc biệt là từ mũi, dạ dày và ruột. Chảy máu tai và ban xuất huyết trên da ”. Một nhà điều tra người Đức đã ghi nhận “những vết xuất huyết xuất hiện ở các bộ phận khác nhau của mắt” với tần suất lớn. Một nhà nghiên cứu bệnh học người Mỹ lưu ý: “50 trường hợp xuất huyết dưới kết mạc đã được báo cáo. 12 người bị chảy máu đỏ tươi, không có chất nhầy… 3 trường hợp bị chảy máu đường ruột ”. “Các trường hợp đau dữ dội trông giống như người bị sốt xuất huyết, chảy máu mũi hoặc phế quản, tê liệt não hoặc cột sống, suy sụp”, nhà nghiên cứu bệnh học chính của Sở Y tế Thành phố New York cho biết có thể nặng hoặc nhẹ, vĩnh viễn hoặc tạm thời… suy nhược về thể chất và tinh thần ”.

Ngược dòng lịch sử, tìm hiểu về đại dịch cúm A lần 1

Dịch cúm những năm 1918-1919

Virus năm 1918 cũng nhắm vào những người trẻ tuổi. Tại các thành phố Nam Phi, những người trong độ tuổi từ 20 đến 40 chiếm 60% số ca tử vong. Ở Chicago, số người chết trong độ tuổi từ 20 đến 40 nhiều gấp gần 5 lần so với những người trong độ tuổi từ 41 đến 60. Nhóm duy nhất có khả năng tử vong cao nhất nếu mắc bệnh là phụ nữ mang thai, với tỷ lệ dao động từ 23%. lên 71%. Trong số những phụ nữ mang thai sống sót, 26% trong số họ đã mất con.

Điều trị và phòng ngừa năm 1918

Để chống lại căn bệnh này, các bác sĩ đã thử mọi cách từ các phương pháp chữa bệnh cổ xưa đến phát triển vắc-xin và thuốc mới, nhưng vẫn chưa tìm ra phương pháp hiệu quả hơn là truyền máu. từ những bệnh nhân đã khỏi bệnh cho đến những người mới mắc bệnh để cơ thể họ tự tạo ra kháng thể.

Trong giai đoạn này, việc cách ly hoặc can thiệp bằng thuốc không mang lại hiệu quả cao. Cách ly những người bị bệnh và không bị nhiễm chỉ làm chậm quá trình lây lan của vi rút. Nếu ai đó bị bệnh lần thứ hai, khả năng tử vong của họ thấp và các triệu chứng nhẹ hơn so với lần nhiễm bệnh đầu tiên.

Tìm nguồn gốc của vi rút cúm A

Nguyên nhân của bệnh cúm H1N1 năm 1918 vẫn còn là một bí ẩn. Tuy nhiên, đã có nhiều nghiên cứu vào thời điểm đó cho rằng nó đến từ gia cầm và lợn. Cúm A (H1N1) là một trong những bệnh cúm theo mùa vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Virus cúm này chính thức được phát hiện vào năm 2009 với tên gọi ban đầu là cúm lợn vì các nhà khoa học cho rằng chủng cúm này đến từ lợn. Bệnh cúm rất dễ lây lan, dễ lây lan từ người này sang người khác như các chủng cúm thông thường.

Cúm A có thể lây lan qua các giọt nhỏ do người bệnh ho, hắt hơi hoặc cười. Ngoài ra, vi rút cúm A cũng có thể lây truyền khi tiếp xúc, chạm vào bề mặt có vi rút và sau đó chạm vào mắt, mũi và miệng. Tuy không quá nguy hiểm nhưng người nhiễm virus cúm A nếu không cẩn thận vẫn có thể bị viêm phổi nặng, suy đa nhân và tử vong ở một số người mắc bệnh mãn tính.

Bài học từ các đại dịch trong quá khứ

Ngược dòng lịch sử, tìm hiểu về đại dịch cúm A2

Bài học số 1: Ảnh hưởng tử vong là khó dự đoán, nhưng có khả năng chuyển sang độ tuổi trẻ hơn. Các nhà khoa học cho biết rất khó để dự đoán tác động gây tử vong của các đại dịch trong tương lai. Tuy nhiên, có thể nói là an toàn, phạm vi có thể rất rộng (từ ~ 20 đến ~ 500 trường hợp tử vong trên 100.000 người) và những người dưới 65 tuổi sẽ chiếm tỷ lệ cao trong số những trường hợp tử vong này.

Bài 2: Tác động chết người của đại dịch không phải lúc nào cũng “giống như một cơn lốc xoáy”. Đại dịch cúm không phải lúc nào cũng giống như một cơn bão bất chợt. Thay vào đó, tỷ lệ tử vong có thể vẫn không thể đoán trước trong vài năm.

Bài 3: Trước một vụ dịch cúm thường có những dấu hiệu báo trước. Đối với đại dịch năm 1918, sáu tháng trước khi nó được công bố chính thức, đã có rất nhiều người chết. Đại dịch virus năm 1957 đến châu Á vào mùa xuân sau đó xâm nhập vào Hoa Kỳ vào đầu tháng sáu. Đối với đại dịch năm 1968, phần lớn các trường hợp tử vong ở châu Âu xảy ra trước 1 năm sau khi bùng phát. thông báo chính thức về đại dịch. Vì vậy, trong cả ba trận đại dịch, một số hình thức cảnh báo đã được đưa ra. Vì vậy, nếu có bất kỳ dấu hiệu bất thường nào, chúng ta không nên chủ quan mà cần đến gặp bác sĩ để được thăm khám và phát hiện bệnh kịp thời.

Leave a Reply

Your email address will not be published.