Phụ nữ mang thai nên tự điều trị Covid-19 tại nhà là gì?

Mẹ và bé
Rate this post

Thai phụ cần có sự hướng dẫn của bác sĩ trong quá trình điều trị bằng Covid-19, thường xuyên đo thân nhiệt, chỉ số SpO2.

Khi mang thai, sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của mẹ ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của thai nhi trong bụng mẹ. Vì vậy, việc bị nhiễm nCoV khiến nhiều bà bầu lo lắng, căng thẳng.
Theo bác sĩ Lê Thị Vân Trang, Khoa Phụ sản, Bệnh viện Quân y 103, trong thời gian nhiễm vi rút, việc chăm sóc cơ thể để tránh bệnh nặng, nguy hiểm đến tính mạng của cả hai mẹ con là rất quan trọng. và trẻ em.
Bác sĩ đưa ra một vài hướng dẫn dưới đây để hỗ trợ thai phụ vượt qua giai đoạn sản dịch căng thẳng, có phương pháp chăm sóc và điều trị hợp lý khi bị nhiễm Covid-19.

Theo dõi nhiệt độ cơ thể

Phụ nữ mang thai cần theo dõi chặt chẽ nhiệt độ cơ thể. Nếu cơ thể bị sốt, người bệnh có thể hạ sốt bằng cách chườm ấm và uống thuốc hạ sốt. Với cách chườm ấm, sản phụ dùng hai chiếc khăn đã nhúng nước ấm chườm vào bẹn, nách, cổ, trán… trong vòng 10 – 30 phút, cần thay khăn liên tục; tuyệt đối không dùng rượu, cồn, nước đá chườm. F0 cần mặc quần áo mỏng, tránh bí bách để thoát nhiệt.

Khi sốt trên 38,5 độ, bà bầu có thể dùng paracetamol hoặc efferagal – thuốc hạ sốt dùng cho bà bầu. Các loại thuốc cần uống cách nhau ít nhất 4 – 6 giờ và thường phát huy tác dụng sau khoảng 30 – 45 phút. Đối với phụ nữ mang thai mắc các bệnh liên quan đến gan, thận như viêm gan vi rút, suy gan… cần phải hỏi ý kiến ​​của bác sĩ sản phụ khoa.

Với các loại thuốc có chứa ibuprofen hoặc NSAID, phụ nữ mang thai cần thận trọng. Ibuprofen được FDA (Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ) xếp vào nhóm D và không được khuyến cáo sử dụng cho phụ nữ trong 3 tháng cuối thai kỳ vì có bằng chứng cho thấy ibuprofen gây hại cho thai nhi.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng NSAID (Thuốc chống viêm không steroid – thuốc có tác dụng hạ sốt, giảm đau, chống viêm không chứa steroid) có thể gây tăng áp phổi nặng và suy hô hấp nặng. ở trẻ sơ sinh do ống động mạch đóng sớm. NSAID cũng gây nguy cơ thiểu ối và vô niệu ở trẻ sơ sinh

Theo dõi SpO2 ít nhất 2 lần một ngày. Nếu chỉ số SpO2 dưới 94% là dấu hiệu cần nhập viện, đồng nghĩa với việc tình trạng của thai nhi cũng đang gặp nguy hiểm.

[Caption].  Ảnh: Weill Cornell Medicine

Phụ nữ có thai cần được thăm khám và có hướng dẫn cụ thể của bác sĩ khi dùng thuốc. Hình ảnh: Thuốc Weill Cornell

Trị ho, đau họng và nhiều đờm.

Mẹ ho nhiều sẽ ảnh hưởng đến việc ăn uống, ngủ nghỉ dẫn đến ảnh hưởng không tốt đến thai nhi (do áp lực ổ bụng tăng lên khi ho). Để giảm ho an toàn, làm dịu cổ họng, bà bầu có thể dùng chanh đào ngâm mật ong; Súc miệng bằng nước muối sinh lý Nacl 0,9%. Có thể sử dụng một số loại thuốc ho lành tính như: Prospan, viên ngậm… nhưng nên hạn chế và không nên lạm dụng.

Với bất kỳ loại thuốc giảm ho, giảm ho và đặc biệt là thuốc kháng sinh, bà bầu cần có đơn thuốc cụ thể của bác sĩ, chuyên gia y tế. “Phụ nữ mang thai tuyệt đối không sử dụng thuốc kháng sinh khi chưa được sự cho phép của bác sĩ. Khi vào cơ thể, thuốc kháng sinh sẽ gây ra các tác dụng phụ nhẹ như dị ứng da, buồn nôn, tiêu chảy, khó thở … hoặc thậm chí nghiêm trọng như sốc phản vệ..The sử dụng kháng sinh trong thời gian dài có thể gây rối loạn cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột, gây tiêu chảy, nhiễm nấm Candida … ”, bác sĩ Lê Thị Vân Trang nhấn mạnh.

Ngoài ra, các nghiên cứu đã chứng minh rằng hầu hết các loại thuốc kháng sinh đều đi qua hàng rào nhau thai và có thể gây hại cho thai nhi. Mức độ nguy hại đối với thai phụ thuộc vào loại kháng sinh, liều lượng, thời gian sử dụng và dùng trong giai đoạn thai kỳ nào. Tác hại có thể là tàn tật, dị dạng thậm chí là thai chết lưu.

Bác sĩ cho biết, ba nhóm thuốc kháng sinh có thể được sử dụng trong thai kỳ không hạn chế với quy tắc và liều lượng thông thường: beta lactamin, macrolid, polypeptide. Các nhóm không được sử dụng bao gồm:

– Tetracyclin: vì nguy cơ gây độc cho gan của mẹ, ảnh hưởng đến sự phát triển của xương và làm hỏng men răng của thai nhi.
– Chloramphenicol: có nguy cơ gây suy tủy cho thai nhi.
– Aminoglycosid: gây độc cho thần kinh thính giác và thận của thai nhi.
– Sulfamid: gây quái thai trong 3 tháng đầu, gây vàng da tán huyết nặng ở trẻ sơ sinh nếu dùng trong 3 tháng cuối thai kỳ.
– Quinolone: ​​ảnh hưởng đến sụn khớp của thai nhi.
– Metronidazole: do tác dụng kháng acid folic và gây dị tật trong 3 tháng đầu. Nếu dùng nên kết hợp với các loại vitamin.

Không tự ý sử dụng thuốc kháng vi rút, thuốc chống đông máu

Bác sĩ Vân Trang đưa ra khuyến cáo với các loại thuốc kháng virus, chống viêm, chống dị ứng, chống đông máu. Theo đó, phụ nữ có thai không nên tự ý sử dụng và cần có sự hướng dẫn cụ thể của bác sĩ, nhân viên y tế. Các loại thuốc bao gồm:

– Thuốc kháng vi rút: Monupiravir, Favipiravir, Abidol …
– Chống viêm, ức chế cơn bão Cytokin (hội chứng viêm toàn thân cấp tính): Nếu theo dõi tại nhà, mức độ nhẹ (SpO2 trên 96%), hoặc không có triệu chứng thì không được chỉ định dùng thuốc chống viêm Methypresnisolone, Medrol, Presnisolone, Dexamethasone. Nếu có vấn đề về sức khỏe, bạn cần hỏi ý kiến ​​bác sĩ để nhận được những lời khuyên tổng hợp.
– Chống dị ứng: nổi mẩn ngứa, có thể dùng histamin thế hệ 2 thường dùng là cetirizin, desloratadin và loratadin. Nhiều nghiên cứu cho thấy những loại thuốc này an toàn cho thai nhi và không qua sữa, không có tác dụng phụ gây buồn ngủ.
– Thuốc chống đông máu: Enoxaparin, Levonox, Xarelto… cần hỏi ý kiến ​​bác sĩ trước khi sử dụng.

Chế độ dinh dưỡng hợp lý và khoa học

Bà bầu cần duy trì chế độ ăn uống hợp lý, ăn nhiều rau quả tươi, bổ sung vitamin, sắt, khoáng chất và chất xơ. Chế độ ăn cần cung cấp đủ năng lượng:
– Ba tháng đầu thai kỳ: 30-35kcal / kg cân nặng lý tưởng / ngày.
– Ba tháng cuối thai kỳ: 30-35kcal / kg cân nặng lý tưởng / ngày cộng thêm 360kcal (đối với thai nhi).
– Ba tháng cuối thai kỳ: 30-35kcal / kg cân nặng lý tưởng / ngày cộng thêm 475kcal (đối với thai nhi).

Phụ nữ mang thai cần uống đủ nước, khoảng 40ml / kg mỗi ngày. Tuy nhiên, cần phải hỏi ý kiến ​​bác sĩ trên từng bệnh nhân cụ thể, nhất là bệnh nhân tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật,… Người bệnh cũng cần được nghỉ ngơi, thư giãn, vận động nhẹ nhàng. .

Các trường hợp cần theo dõi và điều trị tại bệnh viện

Thai phụ cần nhập viện ngay khi có triệu chứng khó thở, nhịp thở lớn hơn 20 nhịp thở / phút và (hoặc) SpO2 dưới 96%); cảm giác tức ngực, khó thở; chân tay lạnh. Bệnh nhân sốt trên 38,5 độ, dù đã dùng thuốc hạ sốt nhưng khó hạ; sốt kéo dài hơn 3 ngày không hạ; kém ăn, chán ăn hoặc bỏ bữa không rõ nguyên nhân; buồn nôn, nôn (4 lần một giờ hoặc 6 lần trong 4 giờ); đại tiện kéo dài không cầm, nguy cơ mất nước. Ho kéo dài, khó dứt, ảnh hưởng đến giấc ngủ, thai nhi dù đã dùng các biện pháp mà không đỡ.

Ngoài ra, thai phụ khi thấy các triệu chứng thai nghén bất thường cũng cần đến bệnh viện để theo dõi như: có dấu hiệu chuyển dạ (đau bụng từng cơn, mỗi cơn kéo dài hơn 20 giây, trong 10 phút có hơn 2 cơn; cơn gò) tử cung xuất hiện to dần, to khỏe hơn gây đau đớn; chảy máu âm đạo, nút nhầy, tiết nước); chảy máu âm đạo bất thường, đau bụng dưới; Thai nhi cử động ít hơn bình thường (ít hơn 4 cử động thai / 10 phút) cần phải đến bệnh viện sớm để khám và đánh giá.

Triệu Vy

Leave a Reply

Your email address will not be published.