‘Quy hoạch sản xuất nông nghiệp cần bớt cứng nhắc hơn’

Mẹ và bé
Rate this post

Bà Carolyn Turk – Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nhận xét trong cuộc trao đổi với Báo Nông nghiệp Việt Nam.

Bà Carolyn Turk - Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam.  Ảnh: WB.

Bà Carolyn Turk – Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam. Hình ảnh: WB.

Carolyn Turk đề xuất: “Nông dân phải được phép chuyển đổi linh hoạt sang các loại cây trồng thay thế dựa trên lợi thế so sánh của họ và nhu cầu thị trường.

Việt Nam cần định vị thương hiệu “xanh, sạch và an toàn”

Ngành nông nghiệp luôn trăn trở làm thế nào để vượt qua “lời nguyền” sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, tự phát. Theo bạn, đâu là giải pháp cho vấn đề này?

Thật vậy, một trong những thách thức chính ảnh hưởng đến hiệu quả nông nghiệp ở Việt Nam là sự manh mún trong hệ thống sản xuất. Phân tích của chúng tôi cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia có diện tích đất nông nghiệp manh mún nhất ở Đông Nam Á, với hơn 65% nông dân sở hữu dưới một ha đất nông nghiệp.

Bên cạnh đó, nông dân chưa liên kết với nhau để hình thành các tổ sản xuất, hợp tác xã hoặc liên kết với doanh nghiệp để tăng cường chuỗi giá trị nông sản. Ngoài ra, các phương pháp sản xuất của họ không bền vững, chẳng hạn như lạm dụng đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu và nước để duy trì sản lượng cao.

Những cách làm này đã khiến người dân lo ngại về vấn đề an toàn thực phẩm và gây tác động xấu đến môi trường. Hệ thống sản xuất manh mún cũng dẫn đến chất lượng sản phẩm không đồng đều, quy mô kinh tế thấp và chi phí giao dịch cao – do đó hạn chế khả năng tiếp cận thị trường thuận lợi của nông dân.

Có một số cách để giải quyết tình trạng manh mún sản xuất. Trước tiên, Chính phủ cần khuyến khích và hỗ trợ nông dân hình thành các nhóm sản xuất và / hoặc hợp tác xã để triển khai tập thể và phối hợp các phương thức sản xuất để đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường. Cần có cơ chế khuyến khích hơn nữa để thúc đẩy và hỗ trợ mô hình HTX. Ở các nước khác như Trung Quốc, việc áp dụng sản xuất theo nhóm giúp nông dân hội nhập tốt hơn vào chuỗi cung ứng có tổ chức.

Thứ hai, cần có các chương trình đào tạo hỗ trợ nâng cao năng lực cho các HTX, đặc biệt là đội ngũ quản lý HTX. Thứ ba, việc tập trung đất đai sẽ cải thiện hiệu quả kinh tế theo quy mô, cơ giới hóa và cung cấp các dịch vụ đầu vào khác (ví dụ như phun thuốc, gieo hạt, thu hoạch …).

Cuối cùng, quy hoạch sản xuất cần bớt cứng nhắc hơn, cho phép nông dân chuyển đổi linh hoạt sang các loại cây trồng thay thế dựa trên lợi thế so sánh và nhu cầu thị trường, với sự hỗ trợ của nhà nước. và khu vực tư nhân trong nghiên cứu và phát triển.

Hiện nông sản Việt Nam đã đến được trên 190 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, giá trị nông sản của Việt Nam vẫn chưa cao và chủ yếu xuất khẩu qua trung gian. Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm nào để giúp nông sản Việt Nam xây dựng, khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế và tạo dựng vị thế trong phân khúc giá trị cao?

Đúng vậy, Việt Nam là một trong những nước cung cấp nông sản lớn trên thế giới về khối lượng chứ không phải giá trị. Điều này là do Việt Nam chủ yếu cung cấp các sản phẩm chưa qua chế biến hoặc chất lượng thấp cho thị trường quốc tế.

Mặc dù Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba, cung cấp khoảng 10% sản lượng gạo cung cấp cho thị trường quốc tế, nhưng xét về giá trị xuất khẩu, Việt Nam chỉ đứng thứ 10. Mặc dù chất lượng của gạo sản xuất ra. Ở quy mô hộ gia đình, 10 năm qua đã có nhiều cải thiện nhờ áp dụng các giống lúa chất lượng cao và thực hành sản xuất tốt, tuy nhiên vẫn chưa có thương hiệu quốc gia nào của Việt Nam được coi là sản phẩm. sản phẩm xanh, sạch và an toàn. Điều này đã tác động tiêu cực đến nhiều giá trị gia tăng lợi ích của Việt Nam.

Việt Nam cần xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn cho tất cả các mặt hàng quan trọng của quốc gia, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn thực phẩm, bền vững môi trường và các cam kết quốc gia về giảm phát thải. Khí gây hiệu ứng nhà kính.

Ngày càng có nhiều quốc gia nhập khẩu, đặc biệt là các nước châu Âu, nâng cao tiêu chuẩn bền vững và đặt ra các yêu cầu đối với các sản phẩm xanh và sạch hơn, vì vậy Việt Nam cần định vị lại các sản phẩm và thương hiệu của mình là “xanh, sạch và an toàn”. Việt Nam có thể học hỏi nhiều mô hình của các nước trên thế giới.

Tìm kiếm các nguồn tăng trưởng mới

Một trong những mục tiêu quan trọng trong Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững của Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 là: “Đến năm 2030, thu nhập của cư dân nông thôn cao gấp 2,5 lần so với năm 2020” Theo ông, Việt Nam có đạt được mục tiêu này không? Làm thế nào để nâng cao thu nhập cho nông dân trong bối cảnh đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp để nhường chỗ cho quá trình đô thị hóa?

Trước hết, tôi xin chúc mừng Bộ trưởng Lê Minh Hoan đã mở đường cho việc xây dựng Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Chiến lược này sẽ góp phần chuyển đổi. nông nghiệp theo một lộ trình xanh, các-bon thấp.

Ngân hàng Thế giới cho rằng nông nghiệp trong tương lai phải vừa đạt được tăng trưởng năng suất, vừa thúc đẩy thích ứng và chống chịu với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính.

Nông dân trồng cam hữu cơ tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.  Ảnh: Tùng Đinh.

Nông dân trồng cam hữu cơ tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Hình ảnh: Tung Ding.

Với chiến lược đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt, Việt Nam sẽ trở thành một trong những quốc gia tiên phong trong việc thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững. Tăng năng suất là điều cần thiết để duy trì năng suất lao động cao, hỗ trợ xóa đói giảm nghèo toàn diện và đảm bảo nông nghiệp và nông thôn vẫn là những ngành hấp dẫn trong bối cảnh đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, việc đạt được năng suất cao hơn chỉ có ý nghĩa khi nó được tăng cường khả năng thích ứng, khả năng phục hồi và giảm phát thải khí nhà kính. Do đó, thúc đẩy tăng trưởng năng suất, cải thiện khả năng thích ứng và thúc đẩy thực hành sản xuất các-bon thấp là chìa khóa để phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững.

Cần tìm ra những nguồn tăng trưởng mới, chẳng hạn như ứng dụng công nghệ hiện đại, nông nghiệp chính xác và công nghệ kỹ thuật số, sẽ giúp tăng hiệu quả thu được. Tăng cường chuỗi giá trị nông nghiệp và gia tăng giá trị cũng sẽ giúp nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm, giảm chi phí sản xuất và giao dịch, nâng cao thu nhập cho nông dân.

Và để đảm bảo tính bao trùm và bền vững, khoảng cách kỹ thuật số cần được giải quyết giữa các khu vực nông thôn và thành thị, giữa các hộ gia đình hiểu biết về công nghệ và nông dân lạc hậu hơn.

Ông có thể chia sẻ những ưu tiên trọng tâm trong mối quan hệ hợp tác giữa Ngân hàng Thế giới và Việt Nam trong giai đoạn tới trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và phát triển nông thôn của Việt Nam trong thời gian tới?

Ngân hàng Thế giới và Việt Nam luôn duy trì mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, thân thiết. Chúng tôi tự hào đã có nhiều đóng góp cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, trong đó có những thành tựu đáng kể trong việc chuyển đổi nền nông nghiệp Việt Nam từ tình trạng mất an ninh lương thực sang trạng thái tự nhiên. tự cung tự cấp và sau đó trở thành một trong những nhà cung cấp thực phẩm lớn nhất thế giới trong vòng vài thập kỷ.

Trong giai đoạn tới, chúng tôi đang xây dựng Khung Đối tác Quốc gia (CPF) cho giai đoạn 2022 – 2025 dựa trên các ưu tiên của Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới. Trong giai đoạn tới, chúng tôi sẽ tập trung hỗ trợ tăng trưởng xanh, phù hợp với mục tiêu của Chính phủ là giảm lượng khí thải carbon và trung tính carbon vào năm 2050.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới sẽ tập trung vào việc thúc đẩy thực hành sản xuất nông nghiệp xanh, các-bon thấp, đặc biệt là trong các lĩnh vực sản xuất lúa gạo và chăn nuôi. , để giảm phát thải khí nhà kính. Ngân hàng Thế giới cũng cung cấp hỗ trợ cho các loại cây trồng và cây ăn quả để tăng cường khả năng hấp thụ và lưu trữ các-bon.

Chúng tôi cũng sẽ hỗ trợ Chính phủ thực hiện các chính sách và chương trình đầu tư để thúc đẩy khả năng chống chịu và cải thiện khả năng phục hồi của các hệ thống nông nghiệp, hệ thống lương thực và các tác động môi trường nông nghiệp. tác động của biến đổi khí hậu. Là đối tác lâu dài và tin cậy của Việt Nam, chúng tôi cam kết hỗ trợ ngành nông nghiệp Việt Nam để Việt Nam trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045.

Ngân hàng Thế giới và IFC cũng sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ NN & PTNT tổ chức các Đối thoại Chính sách Cấp cao nhằm cung cấp cho Việt Nam kinh nghiệm và kiến ​​thức thế giới để giải quyết các thách thức nêu trên. và xây dựng một diễn đàn để học hỏi và tranh luận giữa các bên, bao gồm cả khu vực tư nhân.

Xin cảm ơn bà!

Leave a Reply

Your email address will not be published.