Tetralogy of Fallot

Vui khỏe
Rate this post

Tổng quan về Tetralogy of Fallot

Tứ chứng Fallot xảy ra ở khoảng 400 trong số mỗi triệu ca sinh sống. Tình trạng tim bẩm sinh này gây ra sự trộn lẫn máu nghèo oxy với máu giàu oxy, sau đó được bơm ra khỏi tim vào hệ thống tuần hoàn của các mạch máu.

  • Máu rời tim có ít oxy hơn so với nhu cầu của các cơ quan và mô của cơ thể, một tình trạng được gọi là giảm oxy máu.
  • Tình trạng thiếu oxy mãn tính (dai dẳng, lâu dài) gây ra tình trạng tím tái, da, môi và màng bên trong miệng và mũi có màu hơi xanh.

Trái tim bình thường hoạt động như sau:

  • Tim được tạo thành từ 4 ngăn: 2 ngăn trên gọi là tâm nhĩ và 2 ngăn dưới, lớn hơn gọi là tâm thất. Mỗi tâm nhĩ được ngăn cách với tâm thất ghép đôi của nó bằng một van.
  • Trái tim có một mặt trái và một mặt phải. Hai bên trái và phải của tim được ngăn cách bởi một vách ngăn (vách ngăn). Phía bên phải của tim nhận được oxy hoặc máu xanh từ các tĩnh mạch (tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới) từ cơ thể.
  • Máu chảy từ tâm nhĩ phải qua van ba lá vào tâm thất phải, bơm qua van xung lực vào động mạch phổi, động mạch chính đến phổi.
  • Tại phổi, máu sẽ hấp thụ oxy rồi trở về tâm nhĩ trái qua các tĩnh mạch phổi.
  • Từ tâm nhĩ trái, máu được bơm qua van hai lá đến tâm thất trái. Tâm thất trái bơm máu từ tim vào hệ tuần hoàn thông qua một động mạch lớn gọi là động mạch chủ.
  • Máu di chuyển khắp cơ thể, cung cấp oxy và chất dinh dưỡng đến các cơ quan và tế bào.
  • Các cơ quan không thể hoạt động bình thường nếu chúng không nhận đủ máu giàu oxy.

Bốn bất thường (tứ chứng) của tim được mô tả bởi Fallot bao gồm:

  • Phì đại tâm thất phải: Phì đại tâm thất phải, hoặc phì đại, xảy ra phản ứng với hẹp hoặc tắc nghẽn tại hoặc dưới van xung động, do tăng áp lực và công việc của tâm thất phải.
  • Thông liên thất (VSD): Đây là một lỗ trên thành tim (vách ngăn) ngăn cách 2 tâm thất. Lỗ thông thường lớn và cho phép máu nghèo oxy trong tâm thất phải đi qua, trộn với máu giàu oxy trong tâm thất trái. Máu nghèo oxy này sau đó được bơm ra khỏi tâm thất trái đến phần còn lại của cơ thể. Cơ thể nhận được một số oxy, nhưng không phải tất cả. Tình trạng thiếu oxy trong máu này gây ra hiện tượng tím tái.
  • Vị trí bất thường của động mạch chủ: Động mạch chủ, động mạch chính đưa máu ra khỏi tim và vào hệ tuần hoàn, thoát ra khỏi tim từ một vị trí đè lên tâm thất phải và trái. (Trong một trái tim bình thường, động mạch chủ thoát ra khỏi tâm thất trái.)
  • Hẹp van động mạch phổi (PS): Vấn đề chính của tứ chứng Fallot là mức độ nghiêm trọng của chứng hẹp van động mạch phổi, vì VSD luôn xuất hiện. Nếu hẹp nhẹ, tím tái tối thiểu xảy ra, vì máu nghèo oxy từ tâm thất phải có thể đi qua van xung động đến phổi và ít qua VSD. Tuy nhiên, nếu PS ở mức độ trung bình đến nặng, một lượng máu nhỏ hơn đến phổi, vì hầu hết được chuyển từ phải sang trái qua VSD.
  • Tứ chứng Fallot chiếm 10% -15% các dị tật tim bẩm sinh (sơ sinh). Trẻ sơ sinh có bất thường này phát triển các dấu hiệu của tình trạng này rất sớm trong cuộc sống.

Tetralogy of Fallot Cause

Tứ chứng Fallot xảy ra trong quá trình phát triển của bào thai, trước khi sinh, do đó được gọi là dị tật bẩm sinh. Lỗi xảy ra khi tim thai tách thành các khoang, van và các cấu trúc khác tạo nên tim người bình thường. Không ai thực sự chắc chắn tại sao điều này xảy ra.

Tứ chứng của Fallot

Hầu hết trẻ sơ sinh mắc tứ chứng Fallot phát triển chứng tím tái trong năm đầu đời.

  • Da, môi và niêm mạc bên trong miệng và mũi có màu xanh đậm.
  • Chỉ một số trẻ sơ sinh bị tắc nghẽn rất nặng đường ra của tâm thất phải mới chuyển sang màu xanh lam khi mới sinh.
  • Một số ít trẻ mắc tứ chứng Fallot không bao giờ chuyển sang màu xanh, đặc biệt nếu hẹp phổi nhẹ, thông liên thất nhỏ hoặc cả hai.
  • Ở một số trẻ, chứng tím tái khá nhẹ và có thể không bị phát hiện trong một thời gian.

Các triệu chứng sau đây gợi ý tứ chứng Fallot:

  • Tăng trưởng và phát triển chậm hơn, đặc biệt nếu tình trạng hẹp phổi nặng. Tuổi dậy thì có thể bị trì hoãn nếu bệnh uốn ván không được điều trị.
  • Trẻ em thường dễ mệt mỏi và bắt đầu thở gấp khi gắng sức. Chúng có thể chỉ chơi trong một thời gian ngắn trước khi ngồi hoặc nằm xuống.
  • Sau khi có thể đi lại, trẻ thường ngồi xổm để lấy hơi và sau đó hoạt động thể chất trở lại. Ngồi xổm tạm thời làm tăng áp lực trong động mạch chủ và tâm thất trái, khiến máu di chuyển vào tâm thất trái và ra khỏi động mạch phổi đến phổi ít hơn.
Các giai đoạn xanh da trời cực độ (gọi là hypercyanosis hoặc đơn giản là “tet spell”) xảy ra ở nhiều trẻ em, thường là trong 2-3 năm đầu đời.

  • Trẻ đột ngột xanh xao, khó thở và có thể trở nên cực kỳ cáu kỉnh hoặc thậm chí ngất xỉu.
  • 20% -70% trẻ em mắc tứ chứng Fallot trải qua những phép thuật này.
  • Những cơn này thường xảy ra khi cho con bú, quấy khóc, căng thẳng hoặc khi thức dậy vào buổi sáng.
  • Phép thuật có thể kéo dài từ vài phút đến vài giờ.

Khi nào cần tìm kiếm sự chăm sóc y tế

Đôi khi tứ chứng Fallot không được chẩn đoán trong vài tháng đến một năm. Chẩn đoán các tình trạng như tứ chứng Fallot là một trong những mục tiêu của việc kiểm tra sức khỏe định kỳ với bác sĩ của bạn. Đưa con bạn đến nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ nếu trẻ phát triển màu xanh nhạt, khó thở, co giật, ngất xỉu, mệt mỏi, chậm lớn hoặc chậm phát triển. Một chuyên gia y tế nên xác định nguyên nhân của những vấn đề này.

Nếu bạn không thể liên hệ với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của con bạn hoặc nếu con bạn xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào sau đây, hãy đưa con bạn đến phòng cấp cứu ngay lập tức:

  • đổi màu hơi xanh
  • Khó thở
  • Co giật
  • Mờ nhạt
  • Cực kỳ mệt mỏi hoặc suy nhược

Kiểm tra và Kiểm tra

Ngay cả khi màu hơi xanh và các triệu chứng khác biến mất vào thời điểm trẻ được chăm sóc y tế, nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẽ ngay lập tức nghi ngờ có vấn đề về tim. Các xét nghiệm y tế sẽ tập trung vào việc xác định nguyên nhân gây ra tình trạng tím tái.

  • Xét nghiệm trong phòng thí nghiệm: Số lượng hồng cầu và hemoglobin có thể tăng cao khi cơ thể cố gắng bù đắp lượng oxy thiếu hụt trong các mô.
  • Điện tâm đồ (ECG): Thử nghiệm nhanh chóng, không đau này đo và ghi lại hoạt động điện của tim. Các bất thường về cấu trúc của tim thường tạo ra các bản ghi bất thường trên điện tâm đồ. Trong tứ chứng Fallot, phì đại thất phải hầu như luôn có.
  • Chụp X-quang ngực: Hình ảnh này có thể chứng minh “trái tim hình chiếc ủng” cổ điển. Điều này xảy ra do tâm thất phải được mở rộng. Nó cũng có thể cho thấy một động mạch chủ bất thường.
  • Siêu âm tim: Xét nghiệm hình ảnh này là chìa khóa. Nó sẽ chứng tỏ một lỗ thông liên thất hoặc một lỗ lớn giữa tâm thất trái và phải, mức độ hẹp phổi và nó sẽ tiết lộ những bất thường khác không lường trước được. Nhiều bệnh nhân không cần đặt ống thông tim nếu các phát hiện lâm sàng, điện tâm đồ và siêu âm tim thường quy và đúng như mong đợi.
  • Thông tim: Đây là một thủ thuật xâm lấn được thực hiện bởi bác sĩ tim mạch trong một phòng thí nghiệm đặc biệt với bệnh nhân được gây mê cục bộ hoặc toàn thân. Thủ tục này được thực hiện trên tất cả các bệnh nhân nghi ngờ tứ chứng trước khi siêu âm tim vì đây là thủ thuật duy nhất có thể được sử dụng để xác định chẩn đoán. Nếu cần, một ống nhỏ (ống thông) được đưa qua da vào mạch máu (thường ở bẹn) và vào tim bằng tĩnh mạch chủ dưới. Hình ảnh tia X được thực hiện trong khi truyền một lượng nhỏ thuốc nhuộm. Thuốc nhuộm giúp làm nổi bật thông liên thất, hẹp phổi, quá tải động mạch chủ và kích thước của động mạch phổi.

 

Nguồn: webmd.com

Bài đăng Tetralogy of Fallot xuất hiện đầu tiên trên Golden Health Blog.

Leave a Reply

Your email address will not be published.