Bệnh nhân đậu mùa khỉ có thể không có triệu chứng, nhẹ và nặng | Thuộc về y học

Mẹ và bé
Rate this post

Mua nhanh khi khong duoc chung minh, giá cả và hình ảnh 1Hình ảnh virus đậu mùa khỉ dưới kính hiển vi điện tử. (Ảnh: AFP / TTXVN)

Bệnh nhân đậu mùa khỉ có thể không có triệu chứng, nhẹ và nặng – Đây là phân loại lâm sàng thống nhất của bệnh nhân đậu mùa khỉ do các chuyên gia từ Bộ Y Tế, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), Hội đồng chuyên gia của Bộ Y tế tại cuộc họp của Hội đồng chuyên gia Bộ Y tế để chấp nhận “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đậu mùa” trên khỉ ”do Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) tổ chức chiều 26/7, tại Hà Nội.

Hội nghị có sự tham gia của các chuyên gia, bác sĩ có nhiều kinh nghiệm điều trị các bệnh truyền nhiễm trong nước, tham khảo ý kiến ​​của đại diện các tổ chức quốc tế như WHO, CDC.

Cuộc họp được tiến hành trong bối cảnh ngày 23/7, WHO đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp về y tế toàn cầu đối với căn bệnh này.

Trên thế giới, 75 quốc gia đã ghi nhận hơn 16.000 trường hợp mắc bệnh với 5 trường hợp tử vong. Các nước trong khu vực Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Singapore … cũng đã ghi nhận bệnh nhân.

TS Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), Phó Chủ tịch Hội đồng chuyên môn cho biết: “Nguy cơ bệnh đậu khỉ xâm nhập vào Việt Nam là rất cao”. Việt Nam tuy chưa ghi nhận ca bệnh nhưng cần nghiên cứu và ban hành ngay hướng dẫn chẩn đoán và điều trị để phát hiện sớm những ca bệnh đầu tiên, chuẩn bị phương án điều trị, ngăn chặn nguy cơ bệnh bùng phát thành dịch.

Phó Chủ tịch Thường trực Tổng hội Y học Việt Nam, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Chủ tịch Hội đồng chuyên môn Nguyễn Văn Kính đề nghị: Nội dung hướng dẫn cần ngắn gọn, toàn diện nhưng phải đáp ứng được yêu cầu của các cấp y tế, không chỉ dành cho các bác sĩ trong bệnh viện hoặc y tế công cộng.

[Việt Nam chuẩn bị năng lực chẩn đoán, điều trị với dịch đậu mùa khỉ]

Theo đó, cần dựa vào một số yếu tố dịch tễ và bệnh cảnh lâm sàng để nghi ngờ bệnh đậu khỉ. Trong đó, các trường hợp có một hoặc nhiều yếu tố dịch tễ học như: Trong 21 ngày trước khi có triệu chứng, tiếp xúc với một ca bệnh hoặc có thể mắc bệnh, tiếp xúc trực tiếp với da hoặc tổn thương da (kể cả quan hệ tình dục); hoặc tiếp xúc với các vật dụng bị ô nhiễm như quần áo, giường chiếu, đồ dùng cá nhân của người bệnh.

Thứ hai, có một lịch sử du lịch đến các quốc gia đặc hữu đậu khỉ trong vòng 21 ngày trước khi khởi phát triệu chứng.

Ngoài ra, việc xây dựng các nội dung trong Hướng dẫn được tham khảo từ các trường hợp bệnh cụ thể thực tế của các đồng nghiệp trên thế giới, kinh nghiệm điều trị bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam và hướng dẫn của WHO hoặc các tổ chức khác. các cơ sở uy tín khác. Theo đó, các chuyên gia trong cuộc họp đã xác định được 4 giai đoạn trong quá trình diễn biến của bệnh đậu mùa ở khỉ.

Trong thời gian ủ bệnh kéo dài từ 6-13 ngày, (dao động từ 5-21 ngày), người nhiễm bệnh không có triệu chứng và không truyền nhiễm.

Ở giai đoạn khởi phát (từ 1-5 ngày), các triệu chứng chính là sốt và nổi hạch ngoại vi toàn thân. Kèm theo đó, người bệnh có thể đau đầu, mệt mỏi, ớn lạnh, đau họng, đau cơ. Virus có thể lây lan sang người khác từ giai đoạn này.

Trong giai đoạn hoàn toàn, đặc trưng bởi sự xuất hiện của phát ban trên da, thường là 1-3 ngày sau khi sốt. Phát ban có xu hướng li tâm, thường thấy ở mặt, lòng bàn tay, lòng bàn chân, nhưng cũng có thể ở miệng, mắt và bộ phận sinh dục.

Ban từ dát (tổn thương có nền phẳng) đến sẩn (tổn thương cứng hơi gồ lên) đến mụn nước (tổn thương chứa dịch trong) và mụn mủ (tổn thương chứa đầy dịch vàng). Mụn này sẽ đóng vảy, bong tróc và có thể để lại sẹo.

Kích thước tổn thương da được xác định trung bình từ 0,5-1 cm. Số lượng tổn thương da có thể từ vài nốt đến dày đặc. Trong trường hợp nặng, các tổn thương có thể liên kết lại thành các mảng da tổn thương lớn.

Trong thời gian hồi phục, các triệu chứng có thể kéo dài từ 2 đến 4 tuần và sau đó tự hết. Bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng, các vết sẹo trên da có thể ảnh hưởng đến thẩm mỹ và không có nguy cơ lây nhiễm cho người khác.

Về xét nghiệm chẩn đoán ca bệnh, các chuyên gia, nhà khoa học tại cuộc họp cho rằng xét nghiệm sinh học phân tử (PCR hoặc tương đương) bằng gạc hầu họng (giai đoạn khởi phát), dịch bọng nước (giai đoạn toàn phát) là biện pháp hữu hiệu.

Các chuyên gia cũng thống nhất chia các thể lâm sàng của bệnh nhân đậu khỉ thành 3 thể: không triệu chứng, nhẹ và nặng.

Ở thể nhẹ, các triệu chứng thường hết trong 2 đến 4 tuần mà không cần bất kỳ phương pháp điều trị đặc hiệu nào.

Ở thể nặng, bệnh thường gặp ở nhóm nguy cơ cao (phụ nữ có thai, người già, trẻ em, người mắc bệnh cơ địa, suy giảm miễn dịch…), có thể dẫn đến tử vong, thường gặp từ tuần thứ hai của bệnh.

Bệnh nhân có thể bị nhiễm trùng da, sốt dai dẳng, mụn nước có dịch đục hoặc mụn nước vỡ ra có dịch đục. Xét nghiệm các dấu hiệu nhiễm trùng được nâng lên; Cấy vi khuẩn vỉ.

Người bệnh cũng có thể bị viêm phổi với các biểu hiện như ho, tức ngực, khó thở… chụp Xquang phổi thấy rõ tổn thương; Viêm não: suy giảm ý thức, co giật, lú lẫn, thay đổi dịch não tủy. PCR của CSF dương tính với virus đậu mùa khỉ hoặc nhiễm khuẩn huyết với sốt kéo dài, tổn thương các cơ quan nội tạng, cấy máu phát triển vi khuẩn.

PV (TTXVN / Vietnam +)

Leave a Reply

Your email address will not be published.