Khung lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư BOT được tính như thế nào?

Mẹ và bé
Rate this post

Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 22/2022 / TT-BGTVT hướng dẫn một số nội dung trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và Báo cáo nghiên cứu khả thi đối với dự án đầu tư theo hình thức PPP, loại hình hợp đồng BOT trong lĩnh vực giao thông vận tải (Thông tư số 22). Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/11/2022.

Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân tham gia lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư trong lĩnh vực giao thông vận tải theo hình thức liên danh. hợp tác công tư, loại hình hợp đồng BOT.

Thông tư số 22 hướng dẫn một số nội dung trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án BOT như: Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế – xã hội; khung lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư; chỉ số đánh giá chất lượng công trình và hệ thống cơ sở hạ tầng do doanh nghiệp dự án cung cấp; Thời gian khấu hao đối với công trình và hệ thống cơ sở hạ tầng.

Đáng chú ý, Thông tư số 22 đã quy định rõ ràng về khung lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư tại Điều 4.

Cụ thể, chi phí vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư có tính đến rủi ro và lạm phát được xác định theo công thức: i = iv + f.

trong đó tôi là chi phí vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư.

iv là lãi cho vay để huy động vốn đầu tư, được xác định trên cơ sở tham khảo lãi suất cho vay trung dài hạn của ít nhất 03 ngân hàng thương mại; lãi suất vốn vay của các dự án tương tự để làm cơ sở lập phương án tài chính trong báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi (nếu có).

“Lãi cho vay để huy động vốn đầu tư được xác định chậm nhất là 03 tháng trước thời điểm lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, Báo cáo nghiên cứu khả thi”, Thông tư số 22 nêu rõ.

f là tỷ lệ lạm phát, được xác định trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân của 10 năm gần nhất do Tổng cục Thống kê công bố và có xem xét loại trừ những năm có biến động CPI cao.

Về khung lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư, Thông tư số 22 nêu rõ: “Căn cứ quy định pháp luật, điều kiện kinh tế – xã hội và đặc điểm của dự án, đơn vị chuẩn bị dự án quy định mức lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư theo phương án tài chính trước -báo cáo nghiên cứu khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi được đảm bảo trong khung lợi nhuận ”.

Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tối đa của nhà đầu tư không vượt quá giá vốn (i); lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư tối thiểu không thấp hơn lãi tiền vay để huy động vốn đầu tư (iv) quy định tại Điều 4 Thông tư số 22.

Thông tư số 22 cũng đưa ra một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế – xã hội của các dự án BOT bao gồm: giá trị hiện tại ròng kinh tế (ENPV); tỷ lệ lợi ích kinh tế – chi phí (BCR); tỷ suất hoàn vốn nội bộ kinh tế (EIRR).

Việc tính toán các chỉ tiêu trên thực hiện theo quy định tại Phần IV Mẫu số 01 Phụ lục II và Phần IV Mẫu số 01 Phụ lục III Nghị định số 35/2021 / NĐ-CP ngày 29/3/2021. của Chính phủ. quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư.

Thông tư số 22 cũng nêu rõ lợi ích kinh tế – xã hội của dự án là nhóm lợi ích có thể lượng hóa và quy đổi thành tiền, bao gồm: lợi ích từ việc giảm chi phí vận hành phương tiện, lợi ích từ việc tiết kiệm thời gian vận chuyển hàng hóa và hành khách.

Nhóm lợi ích có thể định lượng được nhưng không xác định được giá trị, bao gồm: lợi ích từ cải thiện môi trường do giảm tác động môi trường về khí thải, bụi, tiếng ồn, lợi ích từ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, tăng khả năng lưu thông hành khách và hàng hóa. , có lợi từ việc giảm thiểu tai nạn giao thông.

Nhóm lợi ích chỉ có thể lượng hóa được, bao gồm: lợi ích từ việc tăng cường kết nối giữa các khu vực, lợi ích từ việc tạo việc làm và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân trong vùng dự án …

Leave a Reply

Your email address will not be published.